Sắc đẹp, Ánh mắt, Sức mạnh ngôn từ và ngôn ngữ cơ thể là bốn loại vũ khí cực kỳ nguy hiểm của phụ nữ mà bất kể người đàn ông nào cũng bị đánh gục khi nữ giới sử dụng toàn bộ các vũ khí này.

Ngày nay, phụ nữ có thể không nhất thiết phải tấn công bằng tất cả những vũ khí trên. Đôi khi họ chỉ cần Sắc đẹp và ánh mắt thôi cũng đủ gây sát thương vô cùng lớn rồi. Để tìm hiểu kỹ hơn, chúng ta sẽ xem qua các giai thoại trong sử Việt và cùng điểm qua một số Nữ kiệt đã sử dụng toàn bộ 04 vũ khí trên để khiến cho các vị tướng tài lên voi, xuống chó thế nào.

Sắc đẹp và tấc lưỡi đàn bà

Việc chúa Nguyễn mở mang miền Nam buổi đầu. Hai quan đại tướng Việt Nam bị cách chức vì nàng Chiêm Rao Luật – một thiếu nữ Chân Lạp có tài ngoại giao rất cám dỗ.

Không khác gì phụ nữ Tây phương, tài hoa và nhan sắc của gái Việt Nam ngày xưa đã từng có lúc làm vẻ vang hoặc ích lợi cho nước nhà về mặt ngoại giao.

Có một vài chuyện lý thú đáng kể.

Trước hết là người con gái ở đời Trần đã đổi mình lấy đất về cho nước nhà, ai nhớ lịch sử cũng đoán ngay ra công chúa Huyền Trân.

Một nhà thơ vịnh sử, đã tả thân thế nàng bằng hai câu này, người ta cho là có giọng khinh bạc:

“Hai châu Ô, Rí vuông nghìn dặm,

Một gái Huyền Trân của mấy mươi”.

Kỳ thật, gái Huyền Trân có thân giá to, chẳng gì cũng to bằng cả khu vực hai châu mà vua Chiêm Thành đã dâng làm lễ cưới. Nên biết gang tấc má hồng của nàng đủ “dán” thêm vào bản đồ nước Nam đất vuông ngàn dặm; ví phỏng đương thời muốn lấy võ lực kinh doanh dù có thiên binh vạn mã, chưa được dễ dàng như thế.

Sử chép năm 1301, vua Nhân Tôn nhà Trần truyền ngôi cho con (Anh Tôn) rồi bỏ đi tu, nghe tiếng nước Chiêm Thành láng giềng có nhiều danh sơn cổ tự, cho nên không ngại đường sá nguy hiểm, lần mò qua xem.

Chế Mân, vua Chiêm Thành nhân biết người du khách mang áo cà sa ấy là Thượng hoàng nước Nam, bèn lấy lễ địa chủ và tinh bang giao, tiếp đãi chắc hẳn trọng hậu. Không hiểu lúc bấy giờ Thượng hoàng vân du là có chủ ý tìm chồng cho con, mở đất cho nước hay chăng, nhưng cảm cái tình Chế Mân ân cần hậu đãi, ngài hứa gả Huyền Trân công chúa cho.

Song từ lời hứa đến khi được vợ, vua Chiêm Thành phải đợi 5 năm và mất 2 châu.

Ban đầu, Chế Mân sai đem vàng bạc thổ sản sang cống và xin cưới nhân thể, nhiều triều thần ta can ngăn nhà vua, vì thấy cuộc nhân duyên ấy không có lợi ích gì cả. Có lẽ ngay công chúa cũng không ưng. Đời đó, một công chúa nước Nam phải về nhà chồng là nước Chiêm Thành xa xôi và khác phong tục, tình cảnh cũng đau thương như Chiêu Quân, Thái Diệm đời Hán bị gả cho vua chúa Ô Tôn Thiềm Vu vậy.

Muốn cưới công chúa Huyền Trân cho kỳ được, ý chừng nàng có nhan sắc, sau Chế Mân đem địa đồ hai châu Ô, Rí sang làm sính lễ, lúc ấy triều đình ta mới thuận:

– Ừ, lễ đón dâu có thế mới coi được chứ!

Công chúa trả lời Thượng hoàng:

– Nếu có lợi ích cho quốc gia như thế, con cũng chẳng tiếc gì thân.

Năm 1306 vua Trần sai Đoàn Nhữ Hài đưa Công chúa vu quy Chiêm Thành, nhân tiện nhận đất hai châu, đổi tên là Thuận và Hóa, đặt quan cai trị.

Có thể nói công chúa Huyền Trân, chẳng những là người đàn bà số một quan hệ về lịch sử ngoại giao của ta, lại cũng là người mở ra chặng đường thứ nhất cho dân tộc mình Nam tiến vậy.

***

Đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn trấn thủ Đàng Trong, họ Trịnh xưng hùng xứ Bắc, hai bên cừu thù và dự bị đánh nhau, cùng tìm cách thân thiện với bọn ngoại thương lui tới xứ mình, nhất là người Hòa Lan, người Bồ Đào Nha, rồi đến các lái buôn Tàu và Nhật, để họ chuyên chở quân nhu khí giới ở ngoài về cho.

Năm 1602, chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên; 1613 – 1635) gả quận chúa cho một thương gia Nhật, tên là Hoàng Mộc Tôn Thái Lang (Araki Sôtarô) vừa có thuyền đi về hải ngoại, vừa làm chủ một cửa hiệu buôn to ở thành phố Hội An. Ngài lại ban quốc tính cho Hoàng Mộc và đặt tên là Nguyễn Đại Lương.

Do bà quận chúa, Hoàng Mộc tận tâm với Sãi Vương, bất cứ ngài cần dùng sắt, đồng, diêm tiêu, hay các món gì thuộc về quân dụng, chàng đều có thể mua hộ ở Áo Môn, ở Quảng Đông và Trường Kỳ chở sang.

Ông Dumoutier, người Pháp, một nhà khảo cứu Đông phương cổ điển có tiếng, thuật rằng quận chúa tên là Amô. Sau theo chồng về bên Nhật chơi được ít lâu, vừa gặp nghiêm lệnh của Mạc phủ Đức Xuyên cấm dân Nhật đi thông thương hải ngoại, thành ra hai vợ chồng không trở lại Hội An được nữa. Bà mất tại Trường Kỳ năm 1645 và táng ở chùa Dainonji. Con cháu còn giữ kỷ niệm một cái gương soi của bà đem từ nước Nam qua, bề ngang ba tấc rưỡi, bề cao ngót 4 tấc, chung quanh chạm trổ và mạ vàng y như kiểu Tây, chắc là mua của người Hòa Lan, Bồ Đào Nha đưa sang Hội An đời đó.

***

Câu chuyện sắp kể dưới đây cũng về triều Lê.

Từ nhà Đinh lập ra lệ quen cống sứ và thụ phong nước Tàu trở đi, triều vua nào cũng vậy, cách độ ít năm lại có sứ thần Trung Quốc nghênh ngang qua nước ta một lần hoặc đem sắc phong cho vua mới, hoặc có việc tranh chấp về đất cát biên thùy.

Chúng tôi viết “nghênh ngang” chính là sự thật. Không phải Bắc sứ nào cũng phong nhã và biết giữ lễ độ như Trạm Nhược Thủy, Phan Hy Tăng đời Minh (ông trên là bạn thiết của Vương Dương Minh, người xướng lên học thuyết Trí Lương tri). Phần nhiều quan chức họ chẳng qua Bố chánh án sát và tài học cũng không lỗi lạc gì, nhưng chỉ ỷ mình là bầy tôi thiên triều, là quan sứ thượng quốc, một khi bước chân sang đây họ vênh váo hạch sách và xem người nước mình bằng nửa con mắt.

Vì thế, ở triều Lê, mỗi dịp có Bắc sứ đến, nhà đương cuộc ta thường phải sắp đặt khoe khoang nhân tài, cốt làm cho các vị thiên sứ phải để ý mà nhụt bớt kiêu khí đi.

Sách “Lịch triều Hiến chương” của ông Phan Huy Chú về đoạn “bang giao”, chép rằng “đời vua Lê Hiển Tôn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 22 (1761) có sứ nhà Thanh là Đức Thận và Cố Nhữ Tu sang phong cho vua ta. Nhà vua muốn khoe nhân tài bản quốc thịnh đến thế nào, phàm là phần việc đón đưa tiếp rước, đều chọn những người có tài học và giỏi ứng đối dự vào. Ví dụ sai ông Ngô Thời Sĩ lấy danh nghĩa là cử nhân lại mừng sứ Tàu: còn hai ông Nguyễn Phi Sảng và Nguyễn Trọng Hoàn làm đầu bọn phu chèo đò chở sứ qua sông. Thời Sĩ học rộng, đối đáp lanh lẹ cứng cáp, bọn Đức Thận đem lòng kính nể”.

Trước đấy cũng đã có một chuyện làm lác mắt sứ Tàu, mà người đóng vai trọng yếu chính là một cô thiếu nữ.

Theo sách “Tạp biên”, năm Quý Mão đời Lê Dụ Tôn (1723) có sứ Tàu sang, vua sai Nguyễn Quỳnh, một tay danh sĩ đương thời giả làm chú lái đò trên sông Nhị Hà; Đoàn Thị Điểm thì làm cô hàng nước để khoe tài lạ của người nước mình cho sứ Tàu thấy.

Chủ ý sắp đặt ấy muốn phô trương văn vật nước ta với sứ thần Trung Quốc thời đó, đến chú lái đò và cô hàng nước cũng văn hay học giỏi, huống gì những bậc đỗ đạt có danh vị ở chốn triều đình.

Tất nhiên cô Điểm có biết ít nhiều tiếng Tàu, lúc chánh sứ phó sứ dưới đò lên, cô nhí nhảnh chào mời “xếng xáng nhậm xà” sao đó, cho nên một trong hai quan sứ mới thốt ra câu này có ý mỉa mai chua chát:

Phiên âm:

安 南 一 寸 地, 不 知 幾 人耕

“An Nam nhất thốn địa, bất tri kỷ nhân canh”

Nghĩa là: “Một tấc đất An Nam mấy người cày không biết?”. Họ lấy tấc đất để ám chỉ vào cô hàng nước xinh xắn thế kia, chắc hẳn vô số người có thể chọc ghẹo.

Cô (bà Đoàn Thị Điểm) trả đũa ngay, nếu không té ra mình bị nhục, mà mình nhục tức là quốc thể bị nhục.

Phiên âm:

北 ? 两 大 夫 皆 由 此 涂 出

“Bắc triều lưỡng đại phu, giai do thử đồ xuất”

Nghĩa là: “Hai quan lớn triều Bắc, cũng chui ngõ ấy mà ra”.

Hai vị thiên sứ biết mình mắc hợm, không nói gì cả, nhưng từ lúc ấy đem lòng kiêng sợ nhân vật nước Nam.

Sách “Nam thiên trân dị” lại để câu chuyện vừa kể trên vào đời vua Lê Thuần Tôn (1732 – 1735).

Nếu chuyện quả có, thì câu cô Điểm đối đáp thật đáng kể là một cuộc thắng lợi về từ lệnh ở trên trường ngoại giao nước nhà.

Song thiên đạo hiếu hoàn, việc đời vẫn thế, cái ngón mình thường đem ra dùng cho được lợi mình ăn người, cũng có kẻ khác dùng nó để ăn lại mình.

Ấy là chuyện về cuối thế kỷ XVII, giữa lúc chúa Nguyễn đang kinh doanh vùng Chân Lạp, mở cuộc Nam tiến, trong “Đại Nam thực lục” có chép rõ ràng. Vả lại, nhiều ông già bà lão ở xứ có chùa Đế Thiên còn nhớ sự tích, người con gái tài hoa của họ đến nay họ vẫn truyền làm giai thoại.

Nguyên hồi năm 1679, có bốn viên cựu tướng nhà Minh là Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên và Trần An Bình nổi lên ở Long Môn chống lại Thanh triều bị thất bại, đem năm chục chiếc thuyền cùng mấy nghìn bộ hạ chạy sang Quảng Nam, xin quy thuận làm dân nước ta. Lúc ấy chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần, 1648 – 1687) đang có chính sách trồng dâu mở ruộng ở xứ Chân Lạp, bèn cấp lương thực cày bừa cho họ vào Đông Phố (tức Gia Định sau này) làm việc khai khẩn.

Bọn Dương Ngạn Địch chia nhau ở đất Lộc Dã, Ban Lân (thuộc Biên Hòa) và ở Mỹ Tho cày ruộng làm nhà, lập lên chợ búa phố phường, có người Tây phương, người Mã Lai, người Nhật, người Tàu đến tụ họp buôn bán vui vẻ.

Hồi đó toàn cõi Nam Kỳ còn là đất bỏ hoang xứ Chân Lạp, nhưng họ thần phục chúa Nguyễn mấy năm một lần nạp cống ta, cũng như ta phải nạp cống Trung Quốc vậy. Chúa Nguyễn bênh vực họ mỗi khi trong nước có việc nội loạn hay ngoại xâm, nhất là chống với Xiêm La thường hay tràn sang uy hiếp Chân Lạp. Đánh đổi lại công ơn ấy, Chân Lạp vui lòng cho người nước ta đến trú ngụ khai khẩn tự do, vì xứ này còn bỏ hoang vu nhiều lắm. Đất rộng đến nỗi, năm 1674, chúa Nguyễn phong cho hai vua: Nặc Thu là dòng đích trưởng, phong làm vua nhất, đóng đô ở Long Áo, Nặc Nộn làm vua nhì, đóng ở Sài Gòn cũng trông coi việc nước.

Ta nên biết qua tình hình về trước như thế, cho được hiểu rõ việc xảy đến về sau.

Tháng 6 năm Mậu Thìn (1687) Hoàng Tiến làm phản, giết chủ tướng Dương Ngạn Địch ở cửa bể Mỹ Tho, rồi tự xưng là Phấn dũng hổ uy tướng quân, đem bộ hạ dời qua Nam Khê, đắp lũy giữ các chỗ hiểm yếu, lại đúc súng đại bác và đóng chiến thuyền, tính cuộc xưng hùng độc lập. Tiến thả quân lính đi gian dâm cướp bóc tứ tung, dân tình Chân Lạp rất khổ.

Vì thế, Nặc Thu (vua nhất) sinh oán, tưởng là chúa Nguyễn – lúc này là chúa Nghĩa, Nguyễn Phúc Trăn (1687 – 1691) – ngầm xui Hoàng Tiến làm vậy để lấy cớ đánh mình. Nặc Thu cùng bầy tôi là Ốc Nha Công Sa mưu tính bỏ lễ xưng thần nạp cống và đắp ba đồn lũy Bích Đôi, Cầu Nam, Nam Vang, đặt lưới sắt khóa chặt cửa sông, làm cách cố thủ, chống nhau với cả Hoàng Tiến và chúa Nguyễn.

Nặc Nộn (vua nhì) nghe rõ mưu ấy, sợ không nói ra thì sau này vạ lây đến mình, lật đật tới dinh Trấn Biên (đóng ở Biên Hòa), tố giác mọi sự với phó tướng Mai Vạn Long và tình nguyện hợp binh với Nam triều cùng trừ kẻ nghịch.

Mai Vạn Long sai chạy ngựa lưu tinh, đem thư ra Huế cáo cấp.

Chúa Nghĩa giận lắm, lập tức họp triều thần bàn định việc dẹp loạn. Quan Chưởng Dinh Tống Đức Minh can không nên:

Tâu chúa công! Nặc Thu hèn mọn, không đáng làm nhọc hơi sức một viên đại tướng của triều đình. Chức cai cơ Trấn Biên, Nguyễn Thắng Sơn, là người khôn ngoan thao lược, từng quen thủy thổ vùng này, có thể sai làm Thống binh, đem ngay quân đóng ở Trấn Biên đi dẹp giặc cũng được. Hoàng Tiến tự tiện giết chết chủ tướng, đồn binh ở Nam Khê, lòng hắn giáo dở thế nào cũng khó dò xét. Vậy xin chúa công hạ lệnh sai ngay Tiến làm tiên phong, để xem hắn quay ra mặt nào cho biết. Nếu quả lòng hắn trù trừ thoái thác, thì quân ta ập tới đánh ngay. Nặc Thu chận mặt trước, đại binh ta phía sau đánh tới, thế nào Tiến cũng bị bắt sống. Khi đã trừ Tiến xong rồi, ta thừa thế đánh thốc vào sào huyệt địch, ấy là kế vạn toàn vậy.

Chúa Nghĩa cho là phải, đã toan cắt đặt y theo kế ấy. Nhưng có viên đội trưởng tên là Trương Thiêm Lộc, cháu của Mai Vạn Long, vốn người tham lợi, biết xứ này sẵn bạc vàng châu báu, nếu ông cậu được cầm quân đánh giặc và mình đi theo, chính là một dịp tha hồ vơ vét; bỏ dịp ấy qua mất, chẳng uổng lắm sao? Thiêm Lộc bèn tức tốc vào chầu, kiếm chuyện tâu bày lợi hại, một hai xin triều đình phong Vạn Long làm tướng và cho mình là Thiêm Lộc tòng quân giúp sức, cam đoan chắc chắn thành công.

Chúa Nghĩa nói:

– Nhưng Vạn Long đã già rồi, ta không muốn lấy việc quân làm phiền y nữa.

– Tâu chúa công! Ngày xưa Mã Viện ngoài 70 tuổi còn có thể mặc áo giáp múa đao, nhảy ngựa ra trận; huống chi Vạn Long ngày nay tuổi chưa đến lục tuần, chỉ mong quốc gia có việc dùng đến, để mà tận trung sức lực, nay triều đình lại cất nhắc một viên tướng cạnh Vạn Long lên làm Thống binh mà bỏ Vạn Lượng không dùng, chẳng hóa ra tủi phận cho người trung thần lão tướng ấy biết bao?

Chúa nghe bùi tai, liền sai thảo sắc phong Mai Vạn Long làm Thống binh, Nguyễn Thắng Sơn, Nguyễn Tân Lễ làm tả hữu vệ trận, Văn Vị làm tham mưu, đem binh đi dẹp loạn. Đồng thời giáng chỉ sai Hoàng Tiến làm tiên phong, dưới quyền Mai Vạn Long tiết chế.

Qua tháng giêng năm sau, đại quân của Vạn Long đến cửa bể Mỹ Tho, đóng ở Sầm Khê, sai người đem cờ lệnh đi vời tiên phong Hoàng Tiến.

Nặc Thu – vua Nhất – nghe báo tin quân ta đã rầm rộ tiến vào bờ cõi, lo sợ tái mặt, cùng mưu thần Ốc Nha Gia Trình bàn kế hoãn binh; trước hết làm sao hoãn được đại binh Hoàng Tiến, vì Hoàng Tiến là tiên phong lại có tiếng là danh tướng.

Vua tôi bàn nhau, lựa chọn một người mỹ nữ, sai đem lễ vật đi thuyết họ Hoàng.

Nàng tên là Chiêm Rao Luật, tuổi trẻ, sắc đẹp, thạo cả tiếng khách lẫn tiếng Nam và có khẩu tài, tự biết nhà vua giao phó việc này cho mình, quan hệ đến cuộc an nguy nhà nước, thế nào mình cũng phải làm thành công mới được.

Ngay sau khi phụng mạng đi sứ, nàng chỉ đem vài tên gia nhân đi theo để tải lễ vật, xuống thuyền thẳng đến Nam Khê vào giữa đại dinh Hoàng Tiến.

Lúc thấy một người thiếu nữ bản xứ ung dung bước vào, Hoàng nghiêm sắc mặt thét hỏi:

– Con bé kia đi đâu?

Chiêm Rao Luật tươi cười tự nhiên:

– Tướng quân trông thì biết, giữa lúc đụng binh mà có một người con gái ngang nhiên đến đây với lễ vật thế này, thì chỉ có một việc đến làm thuyết khách, chứ còn đi đâu!.. Vả lại tôi dám đường đột mạo hiểm, phần nhiều chính là vì tướng quân, vậy mà chưa chi đã nạt nộ mày tao, con bé, con nhớn, sao tướng quân khinh người quá thế?

Hoàng nghe chột dạ, liền đổi nét mặt hòa nhã, niềm nở mời ngồi. Nhưng nàng từ tạ:

– Chẳng nói tướng quân cũng biết tình cảnh nước tôi đang nguy ngập như lửa cháy bên mày, kẻ làm con dân phỏng còn nhàn hạ đâu mà ngồi ấm chỗ cho đành? Tôi vâng mệnh quân vương đến dâng tướng quân mấy món quà mọn, trước là để tỏ lòng kính mến, sau là phần riêng tôi muốn được hiểu rõ hai điều, mong rằng tướng quân sẵn lòng chỉ bảo…

– Được!… Được!… Có điều chi cô cứ việc hỏi, đừng ngại gì cả! – Hoàng nói.

– Tướng quân ở Trung Quốc sang có phải không nhỉ?– Chiêm Rao Luật hỏi.

– Chính thế! – Hoàng nói.

– Xin hỏi tướng quân, bởi ai tướng quân được chỗ dung thân an lạc vinh hiển ở đây bấy lâu?

– Nhờ ơn chúa Nguyễn chứ còn ai!

– Nhưng đất này là đất nào thưa tướng quân?

– Ồ! Đất nước của cô, rõ cô làm bộ thật thà khéo quá.

Hoàng nói và cười có vẻ mơn trớn. Chiêm Rao Luật cũng cười, nhưng cái cười của nàng có phần chua chát:

– Không! Tôi ngỡ tướng quân quên lãng đi chăng, nên tôi muốn hỏi gạn thế đấy. Này tướng quân ở đất nước chúng tôi có mười năm rồi, chứ không phải mới. Cổ nhân dù là một bữa cơm cũng nhớ báo đáp ấy là điển tích phong hóa rất hay bên Tàu, tướng quân không lạ. Hôm nay nghe tướng quân đã thụ mệnh đánh nước tôi, tôi trộm nghĩ việc ấy đối với tướng quân thật là không nên.

Hoàng Tiến nghe mấy lời trách thiện của người thiếu nữ bản xứ, bất giác động lòng, suy nghĩ thân mình ngày nào thất thời lưu lạc, may nhờ tiên vương họ Nguyễn (trỏ vào Chúa Hiền) cho ở đất này, cái ơn bao dung cứu vớt ấy mình quên sao phải. Chiêm Rao Luật trách ta đúng lắm, Hoàng Tiến lại nghĩ: “Cho ta đến ở đây vẫn là chúa Nguyễn, nhưng bấy lâu ta với vợ con ta, bộ hạ ta đều được áo ấm cơm no, phong lưu sung sướng, nhất nhất nhờ xứ này cung cấp, nay ta đem binh đánh lại, té ra bất nghĩa. Mà vì xứ này chống lại mệnh vua thì ta bất trung. Thật là tới lui đều khó, chi bằng cứ án binh bất động, đợi xem cuộc thế xoay trở ra sao, bấy giờ sẽ liệu”.

Hoàng nghĩ vậy rồi nói với Chiêm Rao Luật:

– Vạn Long vời ta, chẳng phải lòng thành đâu. Ý hắn muốn trừ ta trước, rồi diệt Nặc Thu sau đấy thôi, khi nào ta bị hắn lừa gạt. Phiền cô về nói lại với nhà vua không phải lo ngại.

Thế là Chiêm Rao Luật đã dùng ba tấc lưỡi ngăn trở được một đạo binh đừng tiến.

Nhưng rồi Vạn Long sai người nói khéo, đánh lừa được Hoàng Tiến đi thuyền đến chỗ tương hội. Lúc Hoàng vừa bước chân lên bờ, phục binh bốn mặt đổ ra đánh, Hoàng chạy ra cửa bể Lôi Lạp trốn thoát. Vạn Long vào đồn lũy, bắt vợ con Hoàng đem chém và chiêu tập dư đảng Long Môn, giao cho Trần Thượng Xuyên quản lĩnh tiên phong.

Thừa thắng, Vạn Long tiến binh đánh Nặc Thu, đốt cháy cả những cừ đóng ngang sông, lại hãm luôn các thành Bích Đôi, Cầu Nam.

Nặc Thu lùi về giữ thành Long Áo. Một viên bộ tướng ta là cai đội Nguyễn Thắng Quyền khinh thường quân địch và tham lập công, bị Nặc Thu đánh thua. May nhờ cai cơ Nguyễn Thắng Sơn dẫn binh đến cứu, công kích rát quá, Nặc Thu phải rút vào trong thành, đóng chặt cửa lại cố thủ.

Vừa gặp mưa gió sấm sét nổi lên rầm rầm quân ta không tiến được, Vạn Long muốn đóng trại ở bên bờ sông Cái. Nguyễn Thắng Sơn vào trướng can ngăn:

– Bẩm quan Thống binh, xứ này nhiều rừng rậm, nước sông lại chảy mạnh như thác đổ, ta dồn binh ở đây, nếu quân địch đóng bè từ thượng lưu đánh xuống thì ta lấy gì mà chống? Sao bằng hãy rút về bản dinh, cho tướng sĩ nghỉ ngơi dưỡng sức; quân địch thấy ta lui binh, chắc tự sinh ra trễ nải, không lo phòng bị, bấy giờ ta thừa cơ đánh tới, chỉ một trận là bình định được.

Vạn Long nghe theo liền hạ lệnh kéo quân trở về đại trại Sầm Khê.

Nặc Thu thấy quân ta lui rồi, cùng các tướng bàn định, sai người đem lễ vật đến kêu nài Vạn Long hoãn binh, đừng đánh thúc bách quá để xin hàng. Vạn Long biết là mưu kế Nặc Thu muốn gỡ nước cờ bí một lúc thế thôi, không phải thật bụng; chẳng qua cầu ta hoãn binh cho họ có ngày giờ sắp đặt binh lực, rồi lại chống cự như cũ. Tức thời, Vạn Long bỏ tù sứ thần giặc và đuổi kẻ tùy tùng đem lễ vật về, không nhận.

Nặc Thu sợ quá lại họp chư tướng hỏi bây giờ làm thế nào ngăn được Nam quân đừng tiến. Một tướng dâng kế mỹ nhân:

– Việc này lại phải nhờ đến tài hoa Chiêm Rao Luật mới xong

– Phải đấy! Xin chúa công sai nàng đi!

Ai nấy đều tán thành mượn tay Chiêm Rao Luật gỡ hộ nước cờ bí. Nàng lại phụng mệnh đi. Vạn Long biết tiếng người tài hoa, lợi hại, liền mắng phủ đầu:

– Nước mi không lo phận sự cống nạp hằng năm, lại xây thành đắp lũy, đóng nhiều chiến thuyền, ý muốn sinh sự gì thế, định làm phản à?

Trước khi cho nàng vào yết kiến, Vạn Long dàn bày quân lính khí giới, trông rất uy nghiêm, chắc nàng ngó thấy cũng đủ khiếp đảm. Nhưng nàng cứ ung dung đi vào như không để ý đến những gươm giáo sáng quắc, giáp trụ đầy sân; lại không vì nghe Vạn Long quát tháo mà thay đổi nhan sắc chút nào. Nàng điềm tĩnh và nói rất cứng cỏi, lễ phép:

– Bẩm quan nguyên soái, một nước phải lo xây thành đắp lũy để giữ mình là việc tự nhiên, nào có gì lạ. Từ năm ngoái đến giờ, nước chúng tôi mấy lần đem cống phẩm đi nộp triều đình, đều bị Hoàng Tiến đón đường cướp mất; hắn lại thả quân lính quấy nhiễu dân gian, ỷ mình là người được triều đình cho đến kinh doanh đất này, chả ai dám động đến. Xin nguyên soái xét dùm sự thể như vậy, thành ra chúng tôi càng phải lo dự bị khí giới, đồn lũy để mà thủ thân, chứ có dám phản bội gì đâu!

Té ra, chẳng những nàng không chịu mình có lỗi lầm gì, lại còn ngụ ý trách ngầm triều đình ta đã dung cho Hoàng Tiến quấy nhiễu chư hầu nữa là khác.

Mai Vạn Long tin lời nàng nói là thành thực, liền thả người đi sứ lần trước ra, cho cùng Chiêm Rao Luật đem thư về khuyên Nặc Thu lo việc nạp cống, rồi triều đình ta bãi binh hòa hảo như cũ.

Trong lúc nàng ở dinh quân ta, vãi nhiều vàng bạc đút lót để mua lòng các tướng tá, cho nên đối với ai cũng có cảm tình. Nàng sắc đẹp, nói chuyện rất có duyên, nhất là làn sóng mắt long lanh và nụ cười như bông hồng mới nở dễ khiến người ta phải thèm thuồng ngây ngất. Vạn Long đã già cũng còn mơ tưởng ăn thịt ngỗng trời! Một viên bộ tướng trẻ tuổi, đâm ra si tình, nói riêng với bạn:

– Nếu không sợ phạm tội với triều đình, thì tôi muốn cởi nhung y trả lại, để đi theo con bé bản xứ Tây Thi này!

Khuyến đọc: Cách sử dụng ánh mắt hiệu quả

Nhưng nàng về đến hơn một tháng, chẳng thấy tờ hàng và đồ cống đem lại, bấy giờ Vạn Long sinh nghi, họp tướng tá để hỏi ý kiến. Nguyễn Tân Lễ nói:

– Quân ta đến đây, chỉ cốt có việc bình định làm đầu. Nay gặp mùa nước sông Cửu Long đang lên to chảy mạnh, chiến thuyền phải đi ngược lên, thật là khó khăn bất tiện. Vả lại phần nhiều binh lính chưa quen thủy thổ, không nên đưa họ thâm nhập trọng địa. Theo tiểu tướng suy nghĩ, chi bằng ta hãy cứ đóng binh ở đây, chờ quân giặc tự đến lúc nào thì ta đánh lúc ấy là hơn, bất tất phải tiến.

Vạn Long khen thế là phải. Song Nguyễn Thắng Sơn, một tướng đã lão luyện trận mạc, không nghĩ như thế:

– Nguyên soái chớ nên dùng cái mưu chần chờ thế thủ của Tân Lễ mà hỏng việc quân đấy. Nên biết người xứ này hay lọc lừa, dối trá, chỉ khéo dùng cách hoãn binh, để làm cho quân ta nản lòng vô bị, nó sẽ thừa cơ đánh úp thì khốn. Bây giờ, không gì bằng ta cứ tiến binh đánh gấp đi, chỉ một hai trận, nó phải cúi đầu hàng phục. Có lẽ nào cứ khoanh tay đợi giặc ở đây, khiến cho tướng sĩ đều sinh chán nản? Nguyên soái thử nghĩ xem!

Vạn Long có ý không bằng lòng, trừng mắt và nói:

– Đạo làm tướng có phải chỉ ra oai sát phạt là hay, còn phải trọng điều ân – tín mới được chứ. Ta muốn lấy lòng thành thực để đối đãi, nó đã chịu hàng phục và hẹn dâng đồ cống thì ta hãy đợi, còn phải đánh làm quái gì!

Thế rồi Vạn Long truyền lệnh các tướng chia quân đi khẩn đất cày ruộng chung quanh, không nghĩ đến sự chiến đấu gì cả.

Tướng sĩ đi viễn chinh, chỉ mong được đánh trận để trước nữa là mong kiếm chút công danh ban thưởng, sau là chóng được trở về quê quán gia đình. Không ngờ Vạn Long bị nhan sắc và miệng lưỡi Chiêm Rao Luật cám dỗ, đánh lừa, không chịu tiến công, bắt tướng sĩ giết thời giờ ở Sầm Khê đã lâu ngày chầy (dài) tháng, khiến cho người này sinh ốm, người kia nản lòng, ai nấy đều âm thầm oán than.

Nguyễn Thắng Sơn trả thù cái trừng mắt độ nọ, lén dâng biểu về kinh, tâu bày tình trạng như thế.

Chúa Nguyễn xem biểu cả giận:

– À! Tướng Vạn Long mê gái tham lợi làm lỡ việc binh thế này, không tha tội được.

Ngài liền họp đình thần để chọn đại tướng khác vào cầm quân. Theo mấy vị đại thần tiến cử, ngài phong Nguyễn Hữu Hào, con Nguyễn Hữu Dật, một vị danh tướng trong hồi Nguyễn – Trịnh phân tranh mấy chục năm trước, làm Thống binh lấy thêm quân ở Phú Yên, Phan Rí để Nam tiến.

Còn Mai Vạn Long thì tước hết quyền chức, giáng làm thứ dân.

Ấy là một mống.

Qua năm sau, cũng vào khoảng tháng giêng, Hữu Hào đến nơi nhận chức, rồi tiến binh lên đóng ở Bích Đôi, chia đặt dinh trại, trên bộ dưới thủy liền nhau, quân lệnh rất nghiêm chỉnh, các tướng tá đều khen là người giỏi.

Tuy vậy, Hữu Hào chưa tiến công trận nào.

Đến tháng năm, chúa Nghĩa sai sứ đem chỉ dụ vào bảo Hữu Hào: “Nếu như Nặc Thu muốn chuộc tội thì phải dâng voi đực 50 thớt, vàng 500 lạng, bạc 2.000 lạng, sừng tê 50 chiếc. Hễ dâng đủ lễ và xin tạ tội thì ta mới lui quân về, bằng không nhà ngươi cứ việc tiến binh đánh ngay”.

Hữu Hào sai người đến nói cho Nặc Thu biết có chỉ dụ là thế.

Nặc Thu lại cho Chiêm Rao Luật đem trâu dê đến khao quân. Hữu Hào trông thấy mặt nàng cười và nói:

– Cô em lại muốn đến làm thuyết khách đấy ư? Ta không phải là người dễ cám dỗ như Vạn Long đâu. Biết điều thì về bảo với Nặc Thu mau mau hàng phục và đến cống hiến đi! Không thế thì đại binh ta kéo đến, thành trì, làng xóm, nhà các ngươi hóa thành gò đống hết, nghe chưa?

Nàng đáp với giọng tình tứ, uyển chuyển:

– Xin nguyên soái xét hộ thân phận nước nhỏ phải thờ nước lớn, như con thờ cha, khi nào dám có lòng dạ gì khác. Hôm mới rồi, nước chúng tôi đang sắm sửa lễ vật đi cống, thì vừa gặp thiên sứ đến nơi, cho nên sắm sửa chưa kịp đấy thôi. Vậy xin nguyên soái cho rộn một tuần nữa, chúng tôi xin thu xếp đủ các món đem dâng triều đình.

Nàng chấm hết câu bằng nụ cười tươi tắn và đưa mắt nhìn Hữu Hào một cách rất kiều mị, có vẻ thôi miên khiến Hữu Hào choáng váng tâm hồn, nghĩ bụng không trách Vạn Long đã già cũng không chống nổi nhan sắc quyến rũ đó.

Xem ý Hữu Hào đã ngây ngất xiêu lòng trước vẻ đẹp quái ác của cô thiếu nữ thổ dân, các tướng, nhất là cai cơ Nguyễn Thắng Sơn và tham mưu Hòa Tín, cùng hậm hực và nói lớn tiếng:

– Người ở đây giả dối trăm khoanh, xin quan Thống binh chớ có tin lời. Cái gương Vạn Long còn sờ sờ trước mắt. Không bằng ta chém quách con yêu cái này lấy máu tế cờ, rồi tiến binh đánh phăng đi là hơn.

Giá như người khác ở vào giây phút này, nghe các tướng kèo nài giết mình, tất đã lo sợ xanh mặt; nhưng nàng Chiêm Rao Luật tự nhiên như không, đã chẳng lộ vẻ gì sợ hãi, lại còn già dặn thêm:

– Sá gì một đứa con gái yếu ớt như tôi, mà phải nhuộm máu thanh gươm quý hóa của chư vị tướng quân! Nếu quả thực quan nguyên soái không tin lời, thì tôi tự giết mình cho các ngài xem quả mật của con gái xứ tôi này ra thế nào; luôn dịp để tự giải tỏ tấc lòng thành nhân thể!

Miệng nói, tay nàng chụp lấy thanh gươm của Hữu Hào để trên bàn và mấm môi trừng mắt, làm bộ sắp đâm cổ tự tử. Hai má đỏ ửng, dung nhan nàng lúc ấy càng thêm lộng lẫy dễ yêu. Nhưng người ta dằn lấy gươm. Nàng co kéo và nói:

– Cứ để mặc tôi tự xử, thì quan nguyên soái mới khỏi mang tiếng với các nước phiên thuộc và thiên hạ hậu thế rằng một sứ giả nước bé đến xin hẹn ngày quy hàng, nạp cống mà bị giết chết, nhất là sứ giả ấy, là một đứa con gái!

Ai nấy nghe nàng nói đều rùng mình.

Hữu Hào bảo chư tướng:

– Thôi, người ta đã tới xin quy phục mà mình còn gia binh đánh chác, thế là thừa cái nguy của người ta, không phải can đảm. Huống chi Nặc Thu ngày nay như thân con thỏ đã sa hầm, con chim mắc lưới, còn dám lừa dối đâu nữa mà lo!

Đoạn, Hữu Hào đãi Chiêm Rao Luật tử tế và cho nàng về.

Một tuần sau, Nặc Thu cho người đưa tới quân thứ 20 thớt voi, 100 lạng vàng, 500 lạng bạc để cống hiến triều đình ta, nói rằng số còn thiếu lại, xin khất trong ít lâu sẽ thu xếp đủ.

Hữu Hào nhận lễ.

Muốn kéo dài kỳ hẹn, cách dăm bữa, nửa tháng, Nặc Thu lại sai Chiêm Rao Luật đến quân thứ một lần, kiếm chuyện năn nỉ, mớm trớn, làm cho Hữu Hào say sưa càng mặn lòng tin.

Từ đấy, Hữu Hào ở trong quân, ngày ngày cùng tướng tá uống rượu và gọi phường tuồng, con hát đến đàn ca làm vui. Có hôm rượu hơi ngà ngà, Hữu Hào ngồi gật gù tự phụ:

– Ta vâng mệnh ra cầm quân, chưa tốn mất của nhà nước một mũi tên nào, mà quân thù quy phục. Các bậc danh tướng đời xưa chẳng qua cũng thế.

Chư tướng đều cười thầm. Viên giám trận là Đức Diệu không thể nhịn được:

– Tôi e quan Thống binh hiểu lầm bụng dạ họ đấy. Những món vàng bạc, sừng tê, voi đực đều là sản vật xứ họ chẳng thiếu gì, thế mà hôm trước họ chỉ đem có một ít, còn thì nay lần mai lữa, thật là không phải chân tình. Ta cứ tiến binh đánh đi là phải.

Hữu Hào lắc đầu ra vẻ tự đắc:

– Sao các ông ham đánh lắm thế? Được xem núi thây, sông máu có phải là cảnh tượng vui vẻ gì. Nên biết xưa nay cái đạo chiêu đãi người xa, chỉ lấy lễ làm quý, chứ mấy món đồ vật nhiều ít có kể làm chi? Thuở xưa nhà Chu đòi nước Sở nộp mấy xe cỏ bao mao, ấy là chuộng lễ, há phải chuộng vật ư?

Hữu Hào giở lý sự và điển tích xưa để bênh vực cử động của mình, nghe cũng có lý, thành ra Đức Diệu không cãi vào đâu được. Nhưng mà từ đó, Thống binh và các tướng tá dưới trướng không bằng lòng nhau.

Mấy hôm nữa, Chiêm Rao Luật lại phụng mạng Nặc Thu đi sứ, đem đến dinh quân ta thêm 10 con voi nhỏ, 6 chiếc sừng tê, 50 lạng vàng và 100 lạng bạc cống hiến. Hữu Hào nhớ lời Đức Diệu, giả vờ cau mặt và hỏi gắt gỏng:

– Quái thật! Những vật này là thổ sản ở xứ các người, lúc nào chẳng sẵn, sao không nộp hết một lần cho đủ có được không? Chỉ lần lữa nay nộp một ít, mai dâng một ít mà vẫn chưa đủ, bộ các người muốn xảo trá hoãn binh mãi à?

Nàng khôn ngoan lõi đời, sẽ đưa con mắt cũng đủ hiểu một trận giông tố miễn cưỡng, khác với một trận giông tố thật tình:

– Bẩm quan nguyên soái, ngài trách chúng tôi như thế cũng phải, nhưng đáng trách về lúc thái bình vô sự kia thì phải hơn. Bây giờ, giữa lúc đại binh quý quốc đến ra oai sấm sét ở trong bờ cõi chúng tôi ngót hai năm nay, dân tình sợ hãi bỏ trốn vào rừng núi hay kéo nhau đi lánh nạn phương xa mất cả, chẳng lấy người đâu một lúc đi tìm kiếm cho đủ voi đực, sừng tê và số vàng bạc theo như triều đình đã định…

Nàng chưa dứt lời, Hữu Hào đã gạt đi:

– Thôi ta hiểu rồi, để số lễ vật này ta nhận cho, về mau thu xếp đem nộp cho đủ nghe.

Không đếm được lần này là lần thứ mấy, Thống binh Nguyễn Hữu Hào cũng như Vạn Long năm trước, lại bị tài hoa, nhan sắc của người mỹ nữ địa phương khuất phục.

Tham mưu Hòa Tín tức quá:

– Chúng ta vâng mệnh đem quân đến đây, chỉ cần lấy giặc mà đánh; nay tới ổ giặc mà còn thập thò không đánh, là nghĩa lý gì?

Nguyễn Thắng Sơn lại cùng chư tướng xúm lại can ngăn, vật nài:

– Anh em chúng tôi khẩn khoản xin quan Thống binh chặt đầu Chiêm Rao Luật trước, rồi đánh Nặc Thu, để giải quyết việc phản loạn cho mau chóng, chớ nên để chúng nó gạt gẫm mình nữa.

Hữu Hào gắt rầm lên:

– Công việc bên ngoài, trách nhiệm ở ông đại tướng. Ta đây từ hồi niên thiếu đã theo cha đi xông pha trận mạc, bao phen tắm gội tên đạn, ra vào sinh tử, đến những hạng cừu địch có ba đầu sáu tay, ta còn xem chẳng mùi mấn gì; có phải ta sợ hãi gì chúng mà không dám đánh đâu? Sở dĩ ta không đánh là vì có mẹo hay định sẵn trong trí này rồi; các người chớ có hùa nhau kèo nài đánh chác, làm sai kế hoạch của ta đi!

Liền đêm hôm ấy Hữu Hào truyền lệnh cho các đạo quân thủy bộ dọn dẹp đồ đạc; chư tướng thấy chủ soái quyết định rút binh, ai nấy đều ấm ức bất bình, nhưng vì tướng lệnh, không dám cãi lại.

Ngày hôm sau, quân ta lục đục kéo về Bà Rịa đóng đồn, nghỉ ngơi rồi lui về Trấn Biên dinh.

Hữu Hào vào đất địch cầm quân từ tháng giêng đến tháng tám thì triệt binh hồi trấn không hề mùi thuốc, không trông thấy mặt mũi một kẻ địch nào, trừ ra nhan sắc thơ mộng của nàng Chiêm Rao Luật.

Hai tướng Thắng Sơn và Hòa Tín mật tấu về kinh. Chúa Nguyễn nổi giận:

– Khốn nạn! Hữu Hào cũng bị gái cám dỗ, làm trễ việc quân y như Vạn Long, tất phải trị tội rõ nặng mới được.

Y như Vạn Long, Hữu Hào cũng bị truất xuống bạch đinh, lột sạch chức tước.

Thế là hai mống.

***

Người xem truyện tất phải có câu hỏi kết thúc:

– Vậy rồi việc dẹp loạn hồi ấy thế nào?

Cố nhiên yếu phải thua mạnh, kết quả mấy tháng sau Nặc Thu đành xin quy phục và xưng thần nạp cống cho nước ta như cũ. Nhưng mà trước khi tới đoạn ấy, tài sắc ngoại giao của nàng Chiêm Rao Luật đã khéo dùng kế hoãn binh, xô đẩy hai viên đại tướng nhà ta từ trên tướng đài ngã bổ chửng xuống đến đất đen và giữ yên xứ mình được kéo dài hơn 20 tháng!

Trích: Việt sử giai thoại – Đào Trinh Nhất

Bình luận

bình luận

Lưu ý: Tuần Lễ Sách XẢ KHO GIÁ SỐC - TỨC TỐC MUA NGAY - Mua Sách 1/2 Giá giảm đến 50% tất cả các đầu sách kinh điển đang diễn ra.

Tham khảo Tuần Lễ Sách XẢ KHO GIÁ SỐC - TỨC TỐC MUA NGAY Mua Sách 1/2 Giá

Sách Kinh Điển Chuyển Thể Thành Phim giảm 41%

100 Tựa Sách Kinh Tế Nổi Bật giảm 50%

100 Tác Phẩm Kinh Điển giảm 50%